Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Nhân viên|viên chức|nhân sự} bảo vệ có được nâng lương thường xuyên không? - Hr news

Nhân sự bảo vệ có được nâng lương thường xuyên không?

(Chinhphu.Vn) - Theo phản ảnh của bà Nguyễn Thị Liên, bố của bà làm nhân sự bảo vệ cho trường mẫu giáo từ năm 1997 nhưng đến năm 2012 mới được trường ký giao kèo lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn.

Vừa qua, nhà trường có thông tin sẽ ký phụ lục hợp đồng với nội dung đổi thay thời giờ làm việc, bố bà sẽ làm việc vào ban đêm (giờ làm việc ban đêm từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau). Từ năm 1997 đến nay, bố bà không được ngày nghỉ nào, khi hỏi thì được hiệu trưởng nhà trường trả lời do công việc đặc thù không được nghỉ.

Bà Liên muốn được biết, bố bà có thuộc đối tượng nâng bậc lương thường xuyên không? Trường hợp bố bà làm thêm giờ thì có được hưởng lương thuởng làm thêm giờ, làm việc ban đêm không?

luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng trạng sư Khánh Hưng - Đoàn trạng sư thủ đô giải đáp:

Theo Bộ Luật cần lao (năm 2012) quy định tại các Điều 104, Điều 105, Điều 106 về ngày giờ làm việc thông thường, giờ làm việc ban đêm và làm thêm giờ như sau:

- thì giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ trong 1 ngày và 48 giờ trong 1 tuần.

- Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

- Làm thêm giờ là khoảng thời kì làm việc ngoài ngày giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước cần lao tập thể hoặc theo nội quy lao động.

Người sử dụng lao động được sử dùng người cần lao làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Được sự đồng ý của người lao động.

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc thường nhật trong 1 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 30 giờ trong 1 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 1 năm.

Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tiếp trong tháng, người sử dụng cần lao phải bố trí để người cần lao được nghỉ bù cho số thời kì đã không được nghỉ.

Lương bổng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

Theo Điều 97 Bộ Luật lao động quy định:

- Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc lương thuởng theo công việc đang làm như sau: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể lương lậu ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người cần lao hưởng lương ngày.

- Người cần lao làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít ra bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá lương lậu hoặc lương bổng theo công tác của ngày làm việc thường ngày.

- Người cần lao làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% lương thuởng tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Theo phản ảnh của bà Nguyễn Thị Liên, bố của bà làm nhân viên bảo vệ cho trường mẫu giáo từ năm 1997 nhưng đến năm 2012 mới được trường ký HĐLĐ không xác định thời hạn.

Việc nhà trường sử dụng lao động trong thời gian 15 năm liên tiếp mà không ký HĐLĐ hoặc chỉ ký HĐLĐ dưới 12 tháng, hoặc HĐLĐ xác định thời hạn là vi phạm quy định của luật pháp về lao động. Nếu trong thời gian làm việc tại trường học, mà bố bà Liên không được tham dự đóng Bảo hiểm xã hội thì nhà trường còn vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

Từ năm 2012 đến nay, bố bà Liên đang thực hành HĐLĐ không xác định thời hạn, sắp tới trường sẽ ký phụ lục hợp đồng với nội dung thay đổi ngày giờ làm việc, bố bà sẽ làm việc vào ban đêm.

Theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật cần lao, giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Căn cứ khoản 2, Điều 97 Bộ Luật lao động, trường hợp bố bà Liên làm việc ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% lương lậu tính theo tiền lương theo công tác của ngày làm việc thông thường.

Căn cứ Điều 110, Điều 111, Điều 115 Bộ Luật lao động: Mỗi tuần bố bà Liên được nghỉ ít ra 24 giờ (1 ngày); Mỗi năm (đủ 12 tháng) làm việc cho nhà trường được nghỉ phép 12 ngày, cứ 5 năm làm việc cho nhà trường thì số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm tương ứng 1 ngày.

Hàng năm bố bà Liên được được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây: tết dương lịch 1 ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch); Tết Âm lịch 5 ngày; Ngày thắng lợi 1 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch); Ngày Quốc tế lao động 1 ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch); Ngày Quốc khánh 1 ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 1 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

Việc hiệu trưởng nhà trường giải đáp thắc mắc của bố bà Liên là công việc bảo vệ trường học là công việc đặc thù không được nghỉ hàng tuần, nghỉ phép, nghỉ các ngày lễ, tết là trái quy định của pháp luật.

Nếu phải làm thêm giờ thì bố bà Liên được hưởng lương thuởng làm thêm giờ, làm việc ban đêm theo quy định tại Điều 97 Bộ Luật cần lao.

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 1 Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, nhân viên và người cần lao thì, những người làm việc theo chế độ giao kèo lao động xếp lương theo bảng lương do nhà nước quy định trong cơ quan nhà nước, công ty sự nghiệp công lập theo quy định hiện hành của pháp luật thì thuộc đối tượng nâng bậc lương thường xuyên.

Nếu bố bà Liên đã được xếp lương tại thang lương viên chức bảo vệ 12 bậc: bậc 1 hệ số 1,50; bậc 2 hệ số 1,68; bậc 3 hệ số 1,86… bậc 12 hệ số 3,48, theo Bảng 4 (Bảng lương viên chức thừa hành, phục vụ trong các công ty nhà nước, đơn vị sự nghiệp) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, thì sau 24 tháng giữ bậc mà bố bà Liên hoàn tất nhiệm vụ, không bị xử lý kỷ luật thì được xét nâng 1 bậc lương.

Để bảo vệ quyền và ích lợi hợp pháp của mình, bố bà Liên có thể trực tiếp hoặc duyệt Ban chấp hành công đoàn cơ sở kiến nghị với Hiệu trưởng trường đề nghị nhà trường chấp hành đúng quy định của pháp luật về lao động.

Trạng sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng – Đoàn trạng sư Hà Nội

Nhà chức trách nhận định mức thưởng Tết Ất Mùi 2015

(VTC News) – Nhà chức trách nhận định về mức lương, thưởng Tết Ất Mùi 2015 cho người lao động trong thời gian tới.

Ngày 15/12, bàn bạc với phóng viên VTC News, ông Phạm Minh Huân – Thứ trưởng Bộ lao động Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ này đã có văn bản đề xuất các tỉnh giấc, thành phố và doanh nghiệp trên cả nước khai triển thực hành, song song chuẩn bị phương án về lương, thưởng Tết Ất Mùi 2015 cho người cần lao để báo cáo về Bộ.

“Chúng tôi đã có văn bản đề xuất các tổ chức tương tác báo cáo về tình hình lương, thưởng Tết cho người lao động. Dự định khoảng nửa tháng tới sẽ nhận được báo của các đơn vị,” ông Huân cho hay.

Cũng thuần khiết nay, ông Phạm Văn Thanh, Trưởng phòng cần lao - lương thuởng, Sở cần lao Thương Binh và Xã Hội TP thủ đô cho biết, dự định trong tuần này, Sở sẽ nhận được báo cáo về tình hình lương, thưởng Tết cho người cần lao từ các quận, huyện trên địa bàn.

Ông Phạm Văn Thanh nhận định, thưởng Tết cho người lao động năm nay nhiều khả năng sẽ kém hơn mọi năm. Lý do là vì chính sách bảo hiểm, lương bổng đối với người lao động có nhiều đổi thay. Khi các đơn vị buộc phải tăng lương cho người lao động theo quy định thì họ sẽ phải cân đối giảm thưởng để có lãi.

“Theo chúng tôi nhận định thì năm nay các đơn vị tụ hợp vào chính sách tiền lương tăng lên. Thưởng là một khoản thu nhập mềm, có thể sẽ được các đơn vị giảm đi để bù trừ vào việc tăng lương.

Công ty bao giờ cũng tính đến lãi. Khi tổn phí nhân lực, chi phí nhân lực của các công ty tăng lên thì thưởng có thể co lại một chút. Bởi vậy, theo tôi nhận định thì thưởng năm nay không được như mọi năm,” ông Thanh nói.

Ông Thanh cho biết thêm, Tết Giáp Ngọ năm ngoái, có 162 doanh quả báo cáo về thưởng Tết. Trong đó, mức thưởng cao nhất là 65 triệu đồng thuộc một đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đơn vị có mức thưởng thấp nhất là khoảng 2 triệu đồng.

Theo ông Thanh, năm nay, có thể các đơn vị FDI sẽ giữ được mặt bằng lương, thưởng như năm ngoái (trung bình 3,72 triệu đồng), còn với các cơ quan trong nước có thể sẽ giảm.

Vietcombank trả lương "khủng" từ sếp tới viên chức - Human Capital

Vietcombank trả lương "khủng" từ sếp tới viên chức

(ĐSPL) - Vietcombank trả lương gần 100 triệu đồng/tháng cho lãnh đạo cấp cao và gần 20 triệu đồng/tháng cho nhân viên nhà băng trong năm 2013.



Vietcombank trả lương cao từ sếp tới nhân sự.

Theo tài liệu Đại hội cổ đông năm 2013 của Vietcombank công bố thu nhập của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Cụ thể, các sếp trong 2 ban này nhận được khoản lương tương đương với 0,35% lợi nhuận sau thuế.

Trong năm 2013, lợi nhuận sau thuế của Vietcombank là 4.377,6 tỷ đồng. Như vậy, quỹ lương dành cho các sếp trong Hội đồng quản lý và Ban kiểm soát là 15,3 tỷ đồng. Trung bình, mỗi lãnh đạo cao cấp của Vietcombank nhận 1,2 tỷ đồng/người/năm, tương ứng 100 triệu đồng/người/tháng.

Nhàng nhàng, thu nhập năm 2013 của mỗi nhân viên Vietcombank đạt 237 triệu đồng, thu nhập theo tháng là 19,7 triệu đồng/người/tháng.

Đến năm nay, lương của nhân sự nhà băng này tuy có giảm nhưng cũng không kém phần quyến rũ. Theo báo cáo tình hinh Kinh doanh trong 6 tháng đầu năm cho thấy, Vietcombank dành hơn 1.553,2 tỷ đồng trong quỹ lương chi cho cán bộ công viên chức. Tính ra, mỗi viên chức nhà băng này nhận trung bình 111,9 triệu đồng/6 tháng, tương đương 18,6 triệu đồng/tháng.

Tính đến ngày 31/12/2013, Vietcombank có 13.449 lao động, tăng 86 người so với cuối quý 3/2013 và tăng 198 người so với cuối năm 2012. Tăng nhân sự nhưng quỹ lương tại nhà băng này lại giảm nhẹ. Cả năm, Vietcombank chi trả lương và phụ cập cho nhân sự 3.186,95, giảm nhẹ so với con số 3.259,42 tỷ đồng của năm 2012.

Theo báo cáo tài chính thống nhất 9 tháng đầu năm 2014, lợi nhuận trước thuế của Vietcombank đạt 7.533 tỷ đồng, bằng 69,5% kế hoạch năm 2014 và tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2013.

VIỆT HƯƠNG (T.H)

Quy định về bổ nhiệm, bãi nhiệm tổng giám đốc

(HR) TGĐ là người đại diện theo pháp luật của một DN. Vậy, Hội đồng quản trị muốn bãi miễn chức vụ này cần có tiêu chí nào để không xảy ra tranh chấp?

Cty cổ phần S là một Cty niêm yết. Theo Điều lệ Cty thì TGĐ là người đại diện theo pháp luật. Tháng 10/2007, chủ tịch HĐQT Cty lấy quan điểm các thành viên HĐQT bằng văn bản về việc bãi miễn TGĐ cũ (là thành viên HĐQT) và bổ nhậm TGĐ mới. Kết quả kiểm phiếu cho thấy có 3/4 phiếu biểu quyết đồng ý, 1/4 phiếu không có quan điểm (theo Khoản 5 Điều 31 Điều lệ mẫu thì việc bãi miễn TGĐ cũ phải được ít ra 2/3 thành viên HĐQT biểu quyết đồng tình và trong trường hợp này không tính biểu quyết của TGĐ). Sau đó, chủ toạ HĐQT đã ký Quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhậm TGĐ mới.

Tuy thế, TGĐ cũ tuyên bố việc bổ dụng TGĐ mới chưa có hiệu lực vì: Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 14 Điều lệ mẫu thì việc bổ dụng TGĐ mới của HĐQT phải được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) phê duyệt. Ngoài ra, TGĐ là người đại diện theo pháp luật, mà việc thay đổi người đại diện theo luật pháp theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP cần phải có Biên bản và Quyết định của ĐHĐCĐ. Dựa vào các căn cứ pháp lý trên, TGĐ cũ khăng khăng không chịu bàn giao công tác, sổ sách, con dấu Cty.

Chủ toạ HĐQT lập luận rằng theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 25 Điều lệ mẫu và Điểm h Khoản 2 Điều 108 Luật DN 2005 thì HĐQT có toàn quyền bãi miễn TGĐ cũ và việc bãi miễn này không cần phải thông qua của ĐHĐCĐ nên người bị bãi miễn không còn là TGĐ nữa. Còn đối với việc bổ nhậm TGĐ mới cần phải có sự chuẩn y của ĐHĐCĐ mới có hiệu lực thì trong thời kì chờ thông qua của ĐHĐCĐ, người được bổ nhậm giữ chức phận quyền TGĐ.

Những vấn đề cần giải quyết

Vậy quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ dụng TGĐ mới có hiệu lực khi nào? Tranh chấp xảy ra tại thời điểm Luật DN 2005 có hiệu lực, nên căn cứ để giải quyết là Luật DN 2005 và Điều lệ Cty.

Theo quy định tại Điều lệ Cty thì TGĐ là người đại diện theo luật pháp nên việc thay đổi TGĐ đồng thời làm đổi thay người đại diện theo pháp luật. Nhưng theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP thì việc đổi thay người đại diện theo luật pháp phải được ĐHĐCĐ chuẩn y nên việc đổi thay TGĐ cũng phải được ĐHĐCĐ phê duyệt. Ngoài ra, theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 14, Điều lệ Cty thì việc bổ nhậm TGĐ mới của HĐQT phải được ĐHĐCĐ ưng chuẩn. Do đó, quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhậm TGĐ mới chỉ có hiệu lực khi được ĐHĐCĐ thông qua.

Bài học đối với DN

Câu hỏi đặt ra là nếu ĐHĐCĐ không duyệt y việc bổ nhậm Giám đốc/TGĐ của HĐQT thì sao? Theo Khoản 3, Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP, hồ sơ thay đổi người   nhân sự  ở đây   đại diện theo pháp luật phải có bản sao biên bản, quyết định của ĐHĐCĐ về việc thay thế người đại diện theo pháp luật.

Đối chiếu với quy định của Luật DN ta thấy chỉ có hai trường hợp đổi thay người đại diện theo luật pháp do ĐHĐCĐ cũng quyết định: thay đổi chủ tịch là người đại diện theo pháp luật thành Giám đốc/TGĐ là người đại diện theo pháp luật và ngược lại.

Chủ toạ HĐQT do ĐHĐCĐ bầu trực tiếp và là người đại diện theo pháp luật. Các trường hợp khác, việc đổi thay người đại diện theo luật pháp đều là thay đổi chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc đều thuộc thẩm quyền quyết định của HĐQT.

Nhưng tổ chức đăng ký kinh doanh lập luận rằng quy định này thích hợp với Khoản 15 Điều 22 Luật DN (quy định rằng chữ ký của người đại diện theo pháp luật Cty cổ phần là một phần nội dung Điều lệ Cty thành thử nếu Cty thay đổi người đại diện theo pháp luật thì chữ ký của người đại diện theo luật pháp trong Điều lệ Cty sẽ phải đổi thay theo).

Do đó, đơn vị đăng ký kinh doanh cho rằng việc thay đổi người đại diện theo luật pháp sẽ kéo theo việc đổi thay nội dung Điều lệ Cty.

Như vậy, quy định chữ ký người đại diện theo pháp luật là một phần nội dung Điều lệ Cty tạo ra những hệ quả pháp lý rất nghiêm trọng.

Quantri.Vn

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Xử trí khi đơn vị đóng thiếu hệ số bảo hiểm của người cần lao - HR Vietnameses

Xử trí khi công ty đóng thiếu hệ số bảo hiểm của người lao động

Tôi làm việc tại tổ chức nhà nước (4/2009 đến 11/2014) thì bị thải hồi vì vi phạm quy chế. Nhưng tới nay hết tháng 1 năm 2015 cơ quan vẫn chưa trả sổ bảo hiểm để tôi làm thủ tục được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Thời gian từ năm 2009 tới 2013 tôi đóng bảo hiểm theo hệ số 1,84. Từ tháng 11/2013 tôi nâng hệ số lên thành 2,99 xí nghiệp vẫn trừ lương của tôi đóng bảo hiểm theo hệ số là 2,99. Nhưng vừa qua tôi có nghe được thông tin là xí nghiệp vẫn đóng bảo hiểm theo hệ số 1,84 cho tôi như vậy là tôi bị đóng thiếu hệ số 1 năm. Tôi phải làm như thế nào trong trường hợp như thế này, tôi vẫn liên lạc với phòng nhân sự liên tục nhưng vẫn chưa được trả sổ. Liệu để lâu quá tôi có bị mất lợi quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp không?



luật sư tham vấn:

Về việc trả sổ BHXH

Khoản 3 Điều 47 Bộ luật cần lao 2012 quy định: “3. Người sử dụng cần lao có bổn phận hoàn thành thủ tục công nhận và trả lại sổ BHXH và những giấy má khác mà người sử dụng cần lao đã giữ lại của người cần lao.”

Như vậy, bạn có quyền được nhận lại sổ BHXH sau khi không còn làm việc. Trường hợp chưa nhận được sổ Bảo hiểm xã hội, bạn có quyền kiến nghị đến NSDLĐ để được giải quyết

Về trợ cấp thất nghiệp

Khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm 2013 quy định: “Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hiệp đồng lao động hoặc hiệp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trọng tâm dịch vụ việc làm do đơn vị quản lý nhà nước về việc làm thành lập.”

Thành thử, thời hạn để bạn đăng ký thất nghiệp là 3 tháng kể từ ngày có quyết định kết thúc HĐLĐ.

Trường hợp quá thời hạn đăng ký thất nghiệp nên chưa được nhận trợ cấp thất nghiệp thì khoảng thời kì đã tham gia BHTN của bạn được bảo lưu để cộng dồn theo Khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm 2013: “1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời kì đã đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi khởi đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hiệp đồng cần lao hoặc hiệp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.”

Về việc trích lương bổng đóng BHXH hàng tháng, do thông tin bạn cung cấp không đầy đủ dữ liệu, tài liệu nên trạng sư không thể xem xét. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng NSDLĐ đóng BHXH sai so với mức lương trích đóng Bảo hiểm xã hội thì bạn có quyền kiến nghị đến NSDLĐ hoặc chuẩn y Phòng LĐTBXH để được can thiệp.
Trạng sư Phạm Thị Bích Hảo, công ty luật TNHH Đức An, thủ đô

Những tín hiệu cho thấy bạn nên nghỉ việc

có nhẽ đa số chúng ta chẳng thể ngay tức thời bỏ việc bởi sức ép cơm áo gạo tiền. Dù thế, nếu đang có các dấu hiệu dưới đây, bạn nên cân nhắc tìm việc mới.

Thông báo được trang Huffingtonpost đưa ra:

1. Thấy mình chẳng thể tiến bộ

hồ hết mọi người đều muốn đạt được thành tựu nào đó trong công việc. Nếu bạn thỏa mãn với những gì đạt được trong công việc hiện tại thì hãy tiếp tục. Nhưng khi cảm thấy công việc cứ tàng tàng chẳng giúp mình tiến bộ, môi trường làm việc khiến bạn không được tận dụng hết trí óc, thì đó không phải là nơi dành cho bạn, đã đến lúc bạn đi tìm việc mới.

2. Không được trả lương xứng đáng

Trong bất cứ cảnh huống nào, việc không được trả công xứng đáng đều khiến người làm rất chán nản. Khi một công tác không mang lại cho bạn mức lương thưởng cân xứng với khả năng, bạn chỉ cần giải đáp một câu hỏi độc nhất vô nhị: Đó là định giá bản thân bao lăm?



3. Bạn thường bị đau ốm

Nếu bạn thường bị nhức óc, đau bụng, mỏi mệt không rõ nguyên nhân, hãy cân nhắc tới yếu tố tâm lý. Điều này hoàn toàn đúng với những triệu chứng thường lặp lại vào tối chủ nhật và sáng thứ hai.

4. Luôn phải phàn nàn và cảm thấy căm uất

Nếu cuộc nói chuyện của bạn với đồng nghiệp chỉ toàn những lời ca cẩm, hay như việc bước vào quan nha ty khiến bạn cảm thấy bực dọc, khó chịu thì đã đến lúc cân nhắc đổi thay. Những cảm xúc như vậy có thể dẫn đến những rối loạn tác động tới stress.

5. Chỉ chăm chắm chờ đợi tới cuối tuần hoặc ngày nghỉ

Bạn nên cân nhắc mất việc nếu như lúc nào cũng chỉ trông ngóng tới kỳ nghỉ tiếp theo. Công tác không phải là nơi để tra tấn bản thân.

6. Đang làm việc dưới trướng một vị sếp tồi tệ

Chẳng có lý do gì khiến bạn thường xuyên phải chịu quở hay hạ thấp bản thân mình. Bạn đáng giá hơn thế rất nhiều.

7. Thường có ý định nghỉ việc

Khi bạn liên tục nói về chuyện sẽ bỏ việc thì đó chính là lúc bạn nên làm việc ấy. Đồng nghiệp và bản thân bạn hẳn cũng vô cùng ngán ngẩm khi phải nghe điều đó. Hiển nhiên bạn không hài lòng với ngày nay, vậy sao phải kéo dài “nỗi đau” đó?

8. Phúc lợi là thứ độc nhất bạn hài lòng trong công việc

Sức cám dỗ của phúc lợi là thứ ràng buộc nhiều người với nơi làm việc. Giả dụ ngoài điều đó, công việc của bạn không có các yếu tố thỏa mãn khác, có nghĩa bạn đang bán rẻ hạnh phúc theo đúng nghĩa đen. Đây có nhẽ là thử thách khó vượt qua nhất khi bạn muốn thay đổi.

9. Bạn không thỏa mãn với việc làm hiện tại

Bản thân chúng ta sẽ biết mình không thuộc về nơi nào. Đó là lúc bạn cảm thấy không thoải mái, bức bách đến mức muốn hét lên. Nhưng khi bạn khởi đầu sống là chính mình, những điều đó sẽ biến mất.

Hoài Thu

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Đào tạo|huấn luyện|tập huấn} nhân sự làm việc chủ động, dễ mà khó - Hr Froum

Đào tạo nhân viên làm việc chủ động, dễ mà khó

Trong quá trình   đào tạo   và tư vấn cho lãnh đạo các đơn vị, tôi thường được nghe 2 câu hỏi:

- Làm thế nào để nhân viên chủ động hơn trong công tác?

- Làm thế nào để bộ phận   viên chức   không kiểm tra sai người?

Đây có lẽ là thắc mắc chung của các lãnh đạo, các chủ cơ quan. Xét thấy tầm quan trọng của vấn đề, bởi vậy tôi xin san sớt với độc giả về các giải pháp của mình cho các vấn đề nói trên. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin diễn đạt một cách tổng quát về cách thức xây dưng một hàng ngũ nhân sự làm việc chủ động. Nội dung chi tiết cho từng vấn đề tôi sẽ thể hiện trong những bài viết riêng.

Về mặt nguyên tắc, để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ thực hành qua các bước như sau:

- Bước thứ nhất: tạo lập ý thức làm việc chủ động cho mỗi cá nhân? Vì tập thể là tụ hợp của những cá nhân. Ta chỉ có thể có một tập thể làm việc chủ động khi từng thành viên trong đó là những người làm việc chủ động. Thành thử để giải quyết vấn đề về một hàng ngũ làm việc chủ động thì trước hết ta cần phải giải quyết vấn đề về sự chủ động trong công viêc của mỗi cá nhân.

Để tìm ra giải pháp cho vấn đề này, Chúng ta cần phải làm rõ các vấn đề sau:

- Thế nào là chủ động trong công tác?

- Nguyên do tại sao người cần lao không chủ động trong công tác?

- Biện pháp khắc phục?

Trước nhất chúng ta hãy làm rõ thế nào là chủ động trong công việc?

Một nhân sự làm việc chủ động là một người:

- Chủ động tìm việc, chủ động yêu cầu công tác trong phạm vi nghĩa vụ của mình, không chờ cấp trên sai bảo.

- Chủ động   kiếm tìm   và phát hịện các vấn đề, các rủi ro đang hiện hữu hoặc có thể xảy ra trong ngày mai

- Chủ động đồ mưu hoạch giải quyết vấn đề (bao gồm: xác định các rào cản, căn do,.. Và giải pháp thực thi)

- Chủ động thực thi biện pháp

- Chủ động kiểm tra, kiểm tra và phản biện vấn đề

- Chủ động mở rộng vấn đề

Duyên do của việc người cần lao không chủ động trong công việc?

Gồm 3 lý do chính là:

1 Không có trách nhiệm đối với bản thân (đem thế cục mình uỷ thác cho hòan cảnh, cho người khác, không nhận trách nhiệm làm cho những điều mình mong muốn trở nên hiện thực)

2 Tâm lý người đi làm mướn.

3 Thiếu lòng tự tôn

Vậy để khắc phục vấn đề này ta cần phải giúp cho người lao động những điều sau:

1 Có nghĩa vụ với bản thân

2 Có ý thức làm chủ trong công việc

3 Có lòng tự tôn cao

Nhiệm vụ này được thực hành chuẩn y các chương trình huấn luyện. Để có thể đạt mục đích nói tren thì các chương trình huấn luyện cần phải được thiết kế sao cho khi tham gia:

- Học viên phải tự mình giải quyết và khám phá vấn đề

- Học viên buộc phải vận động trí óc để giải quyết ván đề

- Học viên phải tự mình giải tỏa các thắc mắc của bản thân, không ỷ lại vào giảng sư

Với những đề nghị như vậy về chương trình thì không phải bất cứ học viên nào khi tham gia cũng đạt được kết quả, mà kết quả chỉ đạt được khi học viên tham dự khóa học đạt được các điều kiện sau:

- Có nhu cầu phát triển bản thân

- Có ý thức học hỏi cầu tiến

- Tình nguyện tham gia các khóa học

- Nhận bổn phận giải quyết các vấn đề của bản thân

- Chấp nhân làm việc một cách chủ động theo yêu cầu của lớp học

- Chấp nhận và tuân thủ các quy định củakhóa học cùng với sự hýớng dẫn của giảngviên

Bước này được xem là hòan thành khi ta xây dựng xong chương trình đào tạo giúp đạt được các mục tiêu nói trên.

- Bước thứ hai: Thu hút,   tuyển dụng   , giữ chân những nhân viên đã có ý thức làm việc chủ động và khẩn hoang, phát huy ý thức đó của họ.

Giải quyết vấn đề về sự chủ động trong công tác của nhân sự là một vịệc, còn có giữ được họ ở lại làm việc với tổ chức và có khai khẩn, phát huy được tinh thần chủ động trong công tác của họ hay không lại là một chuyện khác. Thành thử, bước kế tiếp là phải giải quyết vấn đề này. Rất nhiều lãnh đạo đơn vị không dám phát triển nhân sự vì sợ họ sẽ đi nơi khác, cũng chỉ vì công việc giữ chân viên chức này yếu kém.

Đây chính là phần việc của người lãnh đạo đơn vị, có thể là: chủ công ty, chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc/giám đốc điều hành đơn vị tùy theo từng trường hợp mà trong đó quyền lực tối cao thuộc về vị trí nào.

.Có rất nhièu nhà lãnh đạo suy nghĩ một cách sai trái rằng: công việc   tuyển dụng   , thu hút, giữ chân, khai hoang và phát huy năng lực của những viên chức làm việc xuất sắc là công tác của bộ phanạ nhân sự chứ không dính líu gì đến mình. Đây thật sự là một nghĩ suy hết sức sai trái. Bởi vì tòan bộ các công tác trên đều đích thực là nhiệm vụ của người lãnh đạo chứ không phải thuần túy của bộ phận nhân viên.

Đương nhiên ngườii lãnh đạo không thực hành nhệm vụ nói trên của mình một cách trực tiếp với từng nhân viên, mà người lãnh đạo thực hành nhiệm vụ đó của mình một cách gián tiếp ưng chuẩn một hệ thống trung gian là môi trường làm việc. Người viên chức xoành xoạch làm việc trong một môi trường làm việc xác định và chịu sự tương tác từ môi trường đó. Chính chất l;ựong của môi trường này sẽ quyết định chất lựong của công việc tuyển dụng, thu hút, giữ chân, vỡ hoang và phát huy năng lực của những nhân viên làm việc xuất sắc .

Chất lượng của môi trường làm việc lại hòan tòan phụ thuộc vào người lãnh đạo vá cũng chỉ phụ thuộc vào người lãnh đạo mà thôi. Bởi vì dù có tinh thần hay sơ ý thức, dù có nhận nghĩa vụ hay không nhân bổn phận thì người lãnh đạo vẫn là người kiến tạo, ảnh hưởng và đính hướng cho sự phát triển môi trường làm việc của tổ chức.

Do vậy năng lực của người lãnh đạo là điều kiện tiên quyết trong công việc này. Để có thể làm tốt công tác này, đòi hỏi người lãnh đạo cần phải đáp ứng được các đề nghị về cá nhân như sau:

- Có Hoài bão, lý týởng

- Có tầm nhìn xa

- Có giá trị sống thích hợp

- Có bổn phận với bản thân

- Có lòng tự trọng

- Quản lý được cái TÔI của bản thân

- Hiểu mình – hiểu ngýời

- Hiểu công ty và ðội ngũ viên chức của mình

- Thấu hiểu môi trýờng kinh doanh

- Thấu hiểu ðối thủ cạnh tranh ðối tác và khách hàng

- Khả nãng truyền cảm hứng

- Khả nãng ðào tạo và huấn luyện

- Khả nãng phát triển bản thân cao

- …

Vì vậy các công tác cần phải giải quyết trong bước này là:

1 đánh giá, kiểm tra và hoàn thiện hõn cácnãng lực cá nhân cho lãnh đạo

2 đánh giá, kiểm tra và hoàn thiện bản tuyên ngôn sứ mệnh của công ty.

3 kiểm tra, kiểm tra và hoàn thiện hõn nữa hệthống nhận dạng thýõng hiệu

4 kiểm tra, ðánh giá và hoàn thiện hõn hệthống doanh nghiệp công việc (các quy trình, bản biểu thị công tác)

5 kiểm tra, đánh giá và hoàn thiện hõn chínhsách ðãi ngộ

Chỉ sau khi bước thứ hai đã được hòan thành chúng ta mới có thể chuyển sang bước thứ 3.

- Bước thứ ba: Xây dựng tập thể người lao động của công ty thành một hàng ngũ nhân sự làm việc chủ động.

Để thực hiên bứớc này chúng ta chỉ cần làm một vài thao tác đơn giản như sau:

1 kiểm tra, phân loại nhân sự thành hai nhóm:

- Nhóm 1 những người có khả năng đào tạo và đổi thay cao theo hướng tích cực, dễ trở nên những người làm việc chủ động.

- Nhóm 2 những người khó có khả năng huấn luyện và đổi thay cao theo hướng tích cực, khó trở nên những người làm việc chủ động

2 khai triển việc giáo dục thái độ làm việc chủ động cho các nhân viên ở nhóm 1 theo biện pháp đã đề ra ở bước 1

3 lập mưu họach và tiến hành thực hiện việc sa thải đối với những nhân sự ở nhóm 2

4 Lên kế hoạch tuyển dụng và giáo dục thái độ làm việc chủ động cho các nhân sự mới.

5 Hòan tất chương trình

Quantri.Vn

Các nguyên tố nền móng của văn hóa công ty

Trong bối cảnh trạnh tranh toàn cầu, văn hóa đã thực sự trở nên một sức mạnh quan yếu của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.

Cơ quan là một pháp nhân hay một cơ quan chủ yếu tham dự vào các hoạt động sinh sản kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Một đơn vị kinh doanh bao giờ cũng được hình thành và điều hành bởi một nhóm các cá nhân. Khi hiệp tác với nhau, các cá nhân này thực hiện các quyền và trách nhiệm theo luật. Nhưng các cá nhân này cũng có những trình độ văn hóa khác nhau và cho nên đã nảy sinh mâu thuẫn hay còn gọi là xung đột về văn hóa.

Ngoài việc làm ăn   kiếm tìm   lợi nhuận, các thành viên trong doanh nghiệp thường xuyên phải giao du, trao đổi và cùng nhau thực hiện các mục tiêu chung tại công sở, thông thường là 8 tiếng một ngày và 5 ngày càng tuần. Như vậy, phần đông các thành viên trong một doanh nghiệp đều ít nhiều có quan hệ gắn bó với nhau trong công tác trong một thời kì dài. Chính thành ra, giữa những thành viên này đã xuất hiện những quy ước về cách ăn mặc, giao thiệp, học tập, đoàn luyện, làm việc… Các quy ước thành văn và không thành văn này dần dần đã trở nên các chuẩn mực làm việc tại nơi công sở và được gọi là văn hóa công ty.

Trình độ văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các nhóm nguyên tố nền móng, các hoạt động văn hóa và các giá trị văn hóa do các thành viên trong cơ quan xây dựng và phát triển, đã được chính các thành viên trong tổ chức và các khách hàng chấp thuận là thích hợp với các chuẩn mực của văn hóa xã hội.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả cố gắng xếp đặt và phân tách các nhân tố nền tảng của văn hóa công ty theo cách tiếp cận đơn giản và dễ hiểu từ góc nhìn trực tiếp của cơ quan.

1. Các nguyên tố hữu hình

Trong nhóm các nhân tố nền móng của trình độ văn hóa DN, người ta có thể dễ dàng nhận ra các nhân tố hữu hình của văn hóa như: kiến trúc hội sở, văn phòng, biển hiệu, tên gọi, khẩu hiệu, y phục cán bộ nhân viên, tiếng nói sử dụng… Đây chính là hình thức trình bày bên ngoài của văn hóa. Tới thăm một DN có hội sở to đẹp, biển hiệu rõ ràng, bảo vệ đứng hai bên, thấy nhiều người ra vào ăn mặc lịch sự… nhiều người có thể có cảm tình và bước đầu kiểm tra văn hóa DN này có thể ở mức cao.

2. Chất lượng ban lãnh đạo và nhân viên

Hình thức cũng quan yếu, nhưng nội dung mới là cái quyết định văn hóa. Có nhiều DN không có hội sở to, chưa biết làm PR hay quảng cáo, nhưng đội ngũ lãnh đạo và phần đông nhân sự lại có nhiều phẩm chất tốt đẹp, phần lớn sống và làm việc theo luật pháp, theo nội quy và các chuẩn mực của văn hóa Việt Nam. Văn hóa DN được xây dựng bởi phần đông các cá nhân trong DN. Do vậy, chất lượng ban lãnh đạo DN và các viên chức cốt lõi đóng vai trò quan yếu nhất trong việc định hướng và quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và văn hóa DN nói riêng.

Nếu ai đó trong ban lãnh đạo vô thượng như chủ toạ hay giám đốc điều hành là người thiếu các phẩm chất của nhà lãnh đạo như thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức, thiếu kỹ năng, có hành vi xử sự thiếu văn hóa… thì rất khó có thể lãnh đạo DN xây dựng được một nền văn hóa tiền tiến. Có lẽ phần nhiều nhân sự đều có cảm nhận là không muốn làm việc cho các DN kiểu này. Thậm chí, quan yếu hơn, là các khách hàng có văn hóa cũng không muốn làm ăn với các ông chủ ở dạng này.

Người xưa thường dùng câu "chủ nào, tôi ấy” để lấy tiêu chuẩn đạo đức hay văn hóa của người làm thuê trung thành mà biểu lộ về tư cách của ông chủ. Hiện tại, phần đông các quan hệ cần lao trên toàn cầu đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, mặc dầu ở chừng độ ít hay nhiều, vẫn còn có nơi có cần lao cưỡng bức và lao động bóc lột. Nhưng câu nói này vẫn có ý nghĩa triết lý vì nó phản ánh mức độ tương tác nhất định của văn hóa ông chủ tới văn hóa của các nhân viên trong cùng một DN. Chính bởi vậy mà gần đây các diễn đàn thường bàn nhiều về văn hóa nhà buôn và danh hiệu thương gia văn hóa. Về cơ bản các khái niệm này cũng dựa trên các cơ sở lý luận về văn hóa cá nhân trong văn hóa doanh nghiệp và văn hóa cộng đồng xã hội.

3. Các quy định về văn hóa

Không cần biết khái niệm văn hóa đơn vị là gì thì doanh nghiệp nào cũng có các nhân tố văn hóa DN một cách tự nhiên ở các chừng độ khác nhau. Vững chắc ban lãnh đạo DN nào cũng đều quan tâm tới văn phòng, nhà máy và không gian làm việc cho mọi nhân viên. DN nào mà chẳng có điều lệ, các quy định, nội quy… ban hành bằng văn bản, phổ quát cho các phòng ban thực thi. Đây là đòi hỏi bắt buộc của xã hội cũng như của luật pháp đối với hoạt động của DN, để bảo đảm rằng DN kiếm được lợi nhuận nhưng cũng phải thực hành các trách nhiệm như nộp thuế, đóng góp bảo vệ môi trường, tôn trọng thuần phong mỹ tục nhà nước…

Đạo đức kinh doanh

Trong marketing hiện đại, không ít DN như công ty Sữa Tam lộc của Trung Quốc xoành xoạch nhấn mạnh đạo đức trong kinh doanh với nội dung chính là chỉ sản xuất ra các sản phẩm an toàn cho con người và môi trường, không làm điều ác. Nhưng chỉ vì hành vi thiếu đạo đức và văn hóa của một số người mà cả DN phải vỡ nợ và làm giảm uy tín của nhiều nhóm sản phẩm khác, gây thiệt hại nhiều tỷ đô la cho nhà nước.

Dù có muốn hay không muốn thì đạo đức kinh doanh là tiêu chí mà hầu hết các khách hàng hay đối tác tương tác đều quan hoài. Nếu DN vi phạm đạo đức kinh doanh như Vedan Việt Nam thì rõ ràng là chưa thực hành trách nhiệm xã hội rồi tiếp đến là vi phạm pháp luật. Văn hóa DN này cũng vì thế mà bị cộng đồng kiểm tra rất thấp. Có thể chỉ do một vài lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật cố tình vi phạm để giảm chi phí và tăng lợi nhuận, nhưng rõ ràng đa số cổ đông và viên chức chuẩn y bộ máy quản lý DN phải chịu bổn phận một phần vì các hành vi làm hủy hoại uy tín, niềm tin của khách hàng. Như vậy, các nhân tố pháp luật, bổn phận xã hội và đạo đức đan xen nhau trong văn hóa DN. Chấp hành tốt pháp luật là tiêu chí quan yếu mô tả đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.

Giá trị theo đuổi

Thường nhật DN nào cũng có tuyên bố về sứ mạng và chiến lược. Đọc các tuyên bố này, có thể hiểu DN đeo đuổi các giá trị gì. Có DN nhấn mạnh chỉ sáng tạo các sản phẩm mới mang lại giá trị cho khách hàng. Có DN phấn đấu làm hài lòng khách hàng bằng chất lượng tốt và giá cả hợp lý. Có DN nhấn mạnh lý do tồn tại và mục tiêu chiến lược lâu dài là cung cấp cho khách hàng các dịch vụ bưu chính viễn thông tốt nhất... Mặc dầu nhiều DN chưa đo đếm được tốt nhất là gì và cụm từ tốt nhất bị nhiều nước cấm sử dụng trong quảng cáo, nhưng điều này trình bày khát vọng mà DN theo đuổi cho dù sóng gió thị trường có thể làm hỏng mong ước của họ. Những giá trị tốt đẹp mà DN cam kết theo đuổi là tiêu chí quan yếu trong nhóm các yếu tố nền tảng của văn hóa đơn vị.

Trong các giá trị DN theo đuổi, nhiều DN và nhân viên đã nhận thức tầm quan yếu của các giá trị tạm thời gọi là giá trị gia tăng trong quá trình hợp tác cùng làm việc như: văn hóa hợp tác, văn hóa san sẻ thông báo, tri thức, kinh nghiệm, quan hệ cộng đồng…

Cũng có nhiều DN chỉ cần làm giàu bằng bất cứ giá nào theo lý lẽ thiên nhiên của kinh doanh. Nhưng điều này chứng tỏ giá trị tiền bạc mà DN đeo đuổi mới chỉ là biểu đạt của sự ấm no về vật chất, chứ chưa phải là sự sung túc về ý thức và văn hóa. Lập luận lại, có tiền thì có thể mua được nhiều thứ có giá trị văn hóa như: văn phòng tráng lệ, đội bóng lớn, đội văn nghệ, các tác phẩm nghệ thuật… Đúng là các giá trị văn hóa, nhưng nó là của người khác, DN khác làm nên, chứ không phải là của DN dùng tiền mua về.

Niềm tin

Nếu không có niềm tin vào sứ mệnh, chiến lược và cam kết của ban lãnh đạo, thì chắc chẳng có mấy nhân viên muốn đi theo DN để phấn đấu, hài lòng thách thức và xây dựng DN. Cũng có nhóm người có xu thế coi làm việc cho DN thuần tuý là công việc, chỉ cần trả   lương   cao đầy đủ, còn nếu hết lương, thì đi làm cho DN khác. Có thể điều này đúng với những người có tài và làm việc cho những DN lớn trên toàn cầu. Nhưng với đa số các DN vừa và nhỏ, DN làm các ngành nghề sáng tạo, nếu ban lãnh đạo và viên chức không có niềm tin vào thành công trong tương lai, thì thật khó có sức mạnh trong cộng tác.

Trong một số DN mới thành lập, đang học tập và sáng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, tác giả đã chứng kiến nhiều hình ảnh thực tại đầy cảm động và ý nghĩa về sức mạnh của niềm tin. Trong khó khăn khôn xiết của lạm phát và khủng hoảng, DN thiếu lương của hàng trăm công nhân vài tháng liền, nhưng trên 90% viên chức vẫn giơ tay biểu hiện kiên tâm cùng với ban lãnh đạo vượt qua khó khăn, đưa DN đi lên và nếu có thất bại thì họ không hối hận tiếc nuối. Các anh hùng cần lao trong thời kỳ đổi mới cũng sinh ra trong những cảnh ngộ rưa rứa như vậy. Hành động anh dũng như thời chiến này trong thời bình có thể khẳng định kiên cố rằng niềm tin là động lực quan yếu của con người.

Thiếu niềm tin, con người có thể mất phương hướng. DN cũng vậy, không có niềm tin chung vào sứ mệnh đeo đuổi, DN khó có thể tụ tập được lực lượng. Vậy có phải niềm tin và văn hóa là quan trọng nhất đối với DN và văn hóa DN là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của DN? Văn hóa DN là yếu tố quan yếu trong nội hàm khả năng cạnh tranh, nhưng bên cạnh nó còn có các nguyên tố quan trọng không kém phần là: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân công, năng lực marketing… Tất cả đều quan trọng và cùng tồn tại trong mối quan hệ tương tác với nhau theo nghệ thuật quản lý của DN.

Thái độ xử sự

Bình thường nội quy đơn vị nào cũng có quy định về thái độ ứng xử trong nội bộ DN và với tất cả các bên ảnh hưởng. Thái độ xử sự của DNVN đa số là thích hợp với các chuẩn mực đạo đức của VN như việc: Luôn vui vẻ khi tới công sở, nghiêm chỉnh trong công việc, thân thiện trong cuộc sống, lãnh đạo dân chủ, viên chức tích cực, không có hằn thù, nói xấu lẫn nhau … Tất cả các nhân tố này tạo nên không khí làm việc và hợp tác trong DN.

Hành vi giao du

Lời chào hỏi thật tâm, cái bắt tay lịch sự, ánh mắt tôn trọng… là các hành vi giao tiếp quan trọng mô tả văn hóa của các cá nhân trong DN. DN thường có một số quy định thành văn và không thành văn về các hành vi giao tiếp. Các hành vi giao thiệp này có ý nghĩa quan trọng vì nó luôn để lại ấn tượng quan yếu về lần gặp đầu tiên và nó biểu hiện các hành động mang tính văn hóa của DN. Cho nên DN cần có quy định thống nhất về các hành vi giao tiếp trong nội bộ, với khách hàng, bạn hàng và với các công ty quản lý nhà nước. Trong quy chế văn hóa công sở của chính phủ có các hành vi bị cấm như: Cấm hút thuốc lá trong phòng làm việc, cấm sử dụng đồ uống có cồn tại công sở trừ các trường hợp ngoại giao, cấm quảng cáo thương nghiệp… DN cũng là một doanh nghiệp, bởi vậy cũng cần có nội quy nêu rõ các hành vi bị cấm.

4. Các quy ước chưa thành văn

Theo quan sát của tác giả, đa số các DNVN đều có các quy ước không thành văn và chưa thể cho thành văn quy định về các hoạt động văn hóa. Có lẽ do các quan niệm đạo đức và tồn tại xã hội có mâu thuẫn mà có nhiều điều khó lý giải đúng sai. Vì thế, trong gia đình, xã hội hay DN vẫn có những quy ước không thành văn về nhiều công tác như: Thăm hỏi thủ trưởng và anh em trong các dịp lễ tết; tặng quà và tặng tiền; không nhất trí với tình ái công sở; người trẻ tuổi hơn thì đi pha trà cho cả phòng vào buổi sáng; uống trà và trò chuyện với nhau trong giờ giải lao…

Các quy ước không thành văn có ưu điểm là tế nhị và linh hoạt trong giao thiệp, nhưng cũng có nhược điểm là tạo ra các khoảng cách khăng khăng và thỉnh thoảng là thói siểm nịnh cấp trên, dễ dẫn tới chạy chức, chạy quyền… Nếu chủ DN không có các tiêu chí khoa học và chi tiết để kiểm tra chất lượng nhân công trước khi bổ nhậm thì dễ để lọt thiên tài và sử dụng nhầm người.

5. Sự tham dự của ban lãnh đạo và nhân viên

Lãnh đạo tối cao DN như các vị chủ toạ hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc… mà không tham gia dẫn dắt các hoạt động văn hóa DN, không gương mẫu trong cả cuộc sống lẫn công việc, thì thật khó có thể duy trì và phát triển được các giá trị nền móng của văn hóa DN. Lãnh đạo DN thấy nhân viên múa dạng khỏa thân trong hội diễn hay ca hát nhại lời tác phẩm nổi danh… mà không ngăn chặn ngay, thì văn hóa DN tốt đẹp lâu năm có thể bị hủy hoại trong vòng vài ngày. Điều này chứng tỏ vai trò lãnh đạo của chủ DN là rất quan trọng trong mọi vấn đề của quản trị DN kể cả việc quản lý văn hóa DN.

Các hoạt động âm nhạc, thể thao, nghệ thuật… biểu thị trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hóa của các thành viên trong DN, nhưng không thành ra mà kiểm tra quá cao chỉ số này trong nhóm nhân tố nội hàm của trình độ văn hóa DN. Có DN không có điều kiện để doanh nghiệp các sự kiện như thi hát, hội diễn văn nghệ, thi đấu thể thao thường xuyên, không có đội bóng lớn… nhưng lại có các giá trị văn hóa rất cao ở các chỉ số khác. Có DN tốn nhiều tiền của và thời gian cho các hoạt động nhằm truyền bá văn hóa và thương hiệu cho DN nhưng lại không nắm chắc các nội dung diễn tả, các quy ước về thuần phong mỹ tục của dân tộc và nhân loại, lại thiếu quản lý chặt chẽ, vì thế đã để xảy ra các sự cố đáng tiếc, làm tổn hại uy tín của DN.

Kết luận & đề xuất

Dù rằng còn cần nhiều thời kì để tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về văn hóa DN, nhưng các nhân tố nội hàm của nền tảng văn hóa cơ quan và một số tỉ dụ nêu trên có thể được sử dụng như những cơ sở lý luận căn bản cho các DN muốn xây dựng và thực hiện một chiến lược hay kế hoạch cụ thể để phát triển trình độ văn hóa DN và sử dụng nó như là một sức mạnh gia tăng kết hợp với các sức mạnh khác về tài chính, nhân công và công nghệ nhằm phát triển khả năng cạnh tranh vững bền cho DN.

Đã đến lúc các DNVN nên nghiên cứu và thành lập thêm một phòng ban quản lý mới trong hệ thống quản trị DN để chuyên quản lý về văn hóa đơn vị. Có thể thành lập phòng văn hóa cơ quan hay ban văn hóa tổ chức do trực tiếp một nhân vật cấp cao lãnh đạo và các viên chức đôn đốc thực hành các hoạt động văn hóa hướng tới phát triển các giá trị và thực hành mục tiêu chung của DN. Căn cứ theo các nhân tố nội hàm cơ bản của trình độ văn hóa DN, các DN có thể phát triển thêm các nguyên tố khác nếu thấy cần thiết. Từ đó dùng chính các yếu tố nội hàm này để đánh giá các tiêu chí văn hóa DN theo các mức độ chưa có hay đã có ở chừng độ thấp, nhàng nhàng, hay cao. Trên cơ sở đó áp dụng các giải pháp phù hợp và linh hoạt để từng bước xây dựng nên một nền văn hóa DN có trình độ cao, mang bản sắc riêng của DN và đặc trưng chung của văn hóa Việt Nam.

Tiến sỹ Hoàng Đình Phi

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

25 cách làm tăng sự trung thành của viên chức - HRM

Nguồn tham khảo: biểu mẫu nhân sự

25 cách làm tăng sự trung thành của nhân viên

(HR) Không cần những khoản tiền thưởng hậu hĩnh hay lời hứa hẹn hẹn thăng tiến xa vời, bạn vẫn có thể khiến nhân viên cảm thấy được coi trọng và muốn gắn bó lâu dài với công ty. Dưới đây là 25 hành động đơn giản nhưng ý nghĩa như vậy:

1. Mời những nhân viên, nhóm làm việc thành công tới báo cáo thành tích với ban quản lí cấp cao.

2. Đề xuất mọi người đề cử và bầu cho viên chức xuất dung nhan nhất trong tháng.

3. Thực hành một chương trình đánh giá nhân viên. Tích điểm thưởng cho những hoạt động tích cực của viên chức. Điểm thưởng có thể được quy đổi thành các phần thưởng nhỏ hoặc lợi quyền đặc biệt.

4. Lập kế hoạch thực hành một buổi tiệc chúc mừng bất ngờ dành cho viên chức/ nhóm thành công.

5. Không kiệm lời ngợi ca viên chức. Nếu bạn thấy viên chức có sự biểu lộ xuất dung nhan, hãy thật lòng chúc mừng và ngợi ca họ. Báo cáo lại với cấp trên về thành tích của nhân viên đó.

6. Trong thư gửi cho toàn thể viên chức trong phòng, hãy dành vài dòng để khen ngợi những cá nhân xuất sắc đẹp. Đề xuất viên chức làm điều na ná với đồng nghiệp của mình.

7. Gọi riêng nhân viên tới văn phòng của bạn để cảm ơn anh/ chị ấy về thành tích tốt.

8. Thiết lập   nhân sự  http://blognhansu.Net   một chương trình điều tra nhân viên. Nó cũng đơn giản như cỗ áo thư góp ý để hoàn thành những bản điều tra về doanh nghiệp.

9. Biểu hiện sự hứng khởi, quan hoài của bạn trước sự phát triển nghề nghiệp của các thành viên trong nhóm.

10. Nhớ và công ty chúc mừng sinh nhật hay nhân dịp kỉ niệm đặc biệt của nhân viên.

11. Chú ý tới kĩ năng giao tế của bạn. Bạn nên gọi viên chức bằng tên thay vì họ. Lắng nghe một cách tích cực và cẩn thận suy nghĩ của họ. Kể cả giao tiếp phi tiếng nói cũng có thể mang lại hiệu quả. Hãy cười thật tươi và bắt tay mạnh mẽ với viên chức để biểu thị tình cảm của bạn.

12. Thiết lập mối quan hệ giữa nhân viên với quản lí cấp cao hơn. Một ý tưởng dành cho bạn: tạo thời cơ cho một viên chức mới ăn trưa với chủ tịch công ty.

13. Đề nghị nhân viên sáng tạo và bầu cử cho giải thưởng dành cho chính họ.

14. Gửi mail cám ơn những nhân viên làm việc quá giờ.

15. Cho phép viên chức chọn lọc nhiệm vụ tiếp theo của mình. Nếu được như vậy, viên chức sẽ nỗ lực cống hiến nhiều hơn và lâu dài hơn.

16. Bổ nhậm nhân viên thành công làm chuyên viên, cố vấn cho văn phòng.

17. Doanh nghiệp “cuộc họp đặc biệt” để tôn vinh những nhân viên xuất sắc đẹp.

18. Ghi nhận thành tích cá nhân của nhân viên như A vừa đứng đầu trong cuộc chạy marathon của doanh nghiệp hay hay B tích cực hiến máu cho đơn vị Chữ thập đỏ. Hãy tuyên dương họ ngay phần đầu cuộc họp nhân viên thường ngày.

19. Vào dịp đặc biệt, có thể cho phép nhân viên nghỉ trưa quá giờ.

20. Sáng tạo cách truyền tụng viên chức của riêng bạn thay vì chúc mừng chung chung.

21. Bao gồm cả những người quản lí cấp trên trong các buổi chúc mừng công của văn phòng. Họ có thể phát biểu và trao các món quà nhỏ để động viên nhân viên.

22. Hỏi ý kiến nhân viên về các hoạt động ngoài công việc, buổi họp hoặc những dịp vui khác. Nhân viên muốn tận hưởng phần thưởng theo cách riêng của mình.

23. Viết một bức thư chính thức giảng giải chi tiết tại sao một nhân viên nào đó xứng đáng được tụng ca. Gửi bản copy tới viên chức cũng như người quản lí cao hơn và lưu một bản trong hồ sơ của nhân viên đó.

24. Lập giải thưởng ghi nhận sự đóng góp của những nhân viên liên tiếp hoàn tất công tác xuất dung nhan.

25. Ủng hộ viên chức bằng cách tạo thời cơ phát triển công bằng cho họ. Hãy quan hoài một tẹo tới cả cuộc sống cá nhân của họ để nâng cao sự cộng tác giữa đôi bên.

Quantri.Vn

CHÍNH SÁCH nhân sự - TPBank - HRM

CHÍNH SÁCH nhân sự - TPBank

Hiệu quả làm việc cao đem lại những giá trị thực thụ cho khách hàng, ngân hàng và quan trọng không kém là cách thức bạn hoàn thành kết quả như thế nào, đây sẽ là các tiêu chí mà TPBank sử dụng để đánh giá hiệu quả làm việc.
TPBank duy trì một chính sách lương, thưởng cạnh tranh, cùng với các cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, luôn sáng tỏ và công bằng nhất.
Bên cạnh chính sách đãi ngộ về tài chính, TPBank còn có các gói phúc lợi và đãi ngộ phi tài chính hiệu quả bảo đảm cho cán bộ viên chức sức khỏe, hạnh phúc và một mai sau tài chính ổn định lâu dài.

Chính sách đãi ngộ tài chính

Chính sách đãi ngộ dành cho Cán bộ viên chức (CBNV) chính thức của TPBank gồm có:

- Lương

- Phụ cấp: Phụ cấp trang điểm (dành cho CBNV nữ), Phụ cấp ăn trưa, Phụ cấp xăng xe/đi lại, Phụ cấp điện thoại, Phụ cấp độc hại.

- Chế độ phúc lơi: TPBank tặng quà hoặc tiền mặt cho CBNV nhân ngày lễ, tết: Ngày Quốc tế cần lao, ngày Quốc Khánh, Tết Nguyên đán, tết dương lịch, Ngày Quốc tế phụ nữ, Ngày đàn bà Việt Nam, Ngày thành lập ngân hàng, ngày sinh nhật CBNV; Tết trung thu/Ngày Quốc tế Thiếu nhi (dành cho con CBNV)...

- Lương kinh doanh: là phần thưởng trên phần hiệu quả cho nhóm viên chức trực tiếp kinh doanh theo chỉ tiêu được giao hàng tháng hoặc quý.

- Thưởng hiệu quả hàng năm: TPBank trả thưởng hàng năm cho CBNV theo kết quả kinh doanh của nhà băng và đánh giá hiệu quả làm việc của CBNV.

Chính sách đãi ngộ phi tài chính

Chính sách đãi ngộ phi tài chính dành cho cán bộ nhân viên (CBNV) chính thức của TPBank như sau:

- Chương trình chăm nom sức khỏe định kỳ và đặc biệt (AON Care);

- Chương trình nghỉ mát hàng năm.

- Chế độ nghỉ phép: 12 ngày, 14 ngày, 16 ngày hoặc 18 ngày tùy từng cấp CBNV. Ngoại giả, tại TPBank, các đơn vị Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nhóm hoạt động tự nguyện Hearts in Hand, và các nhóm thành viên khác được tổ chức và hoạt động thường xuyên. Các chương trình sinh hoạt đoàn thể được đơn vị ngoài giờ làm việc góp phần tạo nên không khí vui tươi, thân thiện, sẻ chia cho cán bộ nhân viên TPBank.

Đặc biệt, các chương trình hoạt động cộng đồng mang tính nhân đạo xã hội cũng thường xuyên được doanh nghiệp và nhận được sự hưởng ứng nồng hậu của cán bộ nhân viên TPBank.

Bằng đại học loại trung bình liệu có xin được việc

Em là sinh viên năm 3 của một trường đại học, chuyên ngành Quản lý nhân sự. Những kỳ thi ở trường, em chỉ làm để đạt điểm đủ điều kiện tốt nghiệp.

Ngành học của em ở trường đại học toàn được dạy lý thuyết nên em thấy chán nản, lười học, chỉ đi để nắm kiến thức là chính yếu. Mỗi khi đi thi 100% là những môn học thuộc mà em rất ngại việc học vẹt này nên chỉ đi thi đủ điểm điều kiện để ra trường.

Mục đích của em như vậy có đúng không vì lý thuyết đó em thấy không ứng dụng vào thực tại cho lắm. Ngoại giả em băn khoăn, việc sẽ nhận bằng làng nhàng, có liên quan gì đến cơ hội xin việc? Em đã có 3 năm kinh nghiệm đi làm thêm và bươn chải rất nhiều, từ phục vụ, bán hàng làm PG giới thiệu sản phẩm, kinh doanh mỹ phẩm... Suốt thời kì ngồi trên ghế giảng đường vừa qua. Mong mọi người tư vấn giúp. Em cảm ơn.

Dương Vy

Xây dựng một công sở vững mạnh - Hr views

Xây dựng một công sở vững mạnh

Một môi trường làm việc vững mạnh là nền tảng cơ bản để công ty thành công trong mọi hoạt động, từ cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng đến tận dụng tối đa năng suất của viên chức…

Là một người quản lí, bạn có thể áp dụng 6 cách cơ bản dưới đây để xây dựng một công sở vững mạnh:

1. Loại bỏ những găng không cần thiết cho viên chức

Để biết những găng tay không đáng có của viên chức, những sếp sáng ý sẽ đặt ra câu hỏi trực tiếp: “ tổ chức có điều gì khiến bạn găng tay, mệt mỏi và làm tác động tới hiệu quả công tác?” Có thể năng lượng của nhân viên bị phung chi phí vào những lo lắng về nạn quan liêu trong đơn vị, về những khó khăn khi thực hiện công việc, thiếu thốn về thông tin và trang bị… Hãy tìm hiểu khó khăn của viên chức và loại bỏ những chướng ngại không cần thiết. Làm được điều đó, bạn sẽ khiến viên chức đạt tới đỉnh cao năng suất và hiệu quả công tác.

2. Cung cấp thông báo rõ ràng cho viên chức

Thông tin mập mờ, không rõ ràng cũng là một duyên do khiến tinh thần làm việc của nhân viên sụt giảm. Lảng tránh vấn đề hay nói láo chỉ làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng hơn. Do đó, hãy cho họ biết những thông tin cấp thiết, về những gì đang diễn ra trong đơn vị, bộ phận, kể nhân sự cả chuyện không vui. Nhân viên càng biết nhiều về những gì đang diễn ra, họ càng mất ít thời kì cũng như năng lượng suy đoán và lo lắng về những điều họ không biết. Môi trường làm việc sẽ được gắn chặt hơn khi mọi người cùng biết và cùng nhau hướng tới mục đích chung.

3. Truyền động lực cho viên chức

Làm cho viên chức có động lực và gắn kết với công ty là một nhiệm vụ quan yếu nhưng rất khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Họ sẽ có nhuệ khí làm việc nếu thấy một tầm nhìn quyến rũ về ngày mai tốt đẹp của doanh nghiệp, về sự dị biệt họ đem lại. Do đó, hãy truyền động lực cho viên chức bằng những lời ca ngợi, những câu chuyện về tấm gương sáng trong đơn vị, về những lá thư cám ơn của khách hàng… Bạn có thể thực hành điều này trong cuộc họp định kì của bộ phận/ tổ chức hay trong các thông tin chung.

4. Đảm bảo viên chức cố gắng hết mình để giành thắng lợi nhưng không suy sụp khi thất bại

Nếu viên chức gặp thất bại trong công tác nhưng không nhận được sự san sẻ từ sếp, họ sẽ mang tư tưởng và trạng thái xúc cảm đó tới mọi việc khác. Điều này tiếp diễn sẽ không chỉ thúc đẩy tới sự nghiệp của viên chức nói riêng mà còn cả hiệu suất, hiệu quả của công ty nói chung. Cho nên, bên cạnh việc động viên viên chức làm việc hết mình, một người quản lí cũng cần giúp đỡ khi họ gặp thất bại, giúp họ rút ra bài học và cổ vũ họ tiếp tục phấn đấu.

5. Chúc mừng thành công của viên chức

Ăn mừng thành công của công ty và của cá nhân không chỉ tạo thành tiếng vang hăng hái, nó còn giúp viên chức nhận thấy bản thân mình như một phần của chiến thắng. Hành động này vững chắc sẽ nuôi dưỡng thái độ làm việc tâm huyết hơn và ý thức sẵn sàng chống chọi và vượt qua thách thức của viên chức.

Hơn nữa, khi thời đoạn khó khăn mang tới những thông tin tiêu cực, bằng cách thu hút sự chú ý tới thành thành công, bạn sẽ mang tới sự hăng hái cho nhân viên. Chúc mừng và trao thưởng xứng đáng cho nhân viên, bạn sẽ tăng cường niềm tin vào công ty của họ. Bạn sẽ nâng trạng thái xúc cảm của nhân viên lên trạng thái hi vọng, tức thị viên chức luôn tin rằng mình có thể vượt qua bất cứ trở lực nào.

6. Thấu hiểu xúc cảm của nhân viên

Khi viên chức có nỗi niềm tâm tư nhưng không ai lưu ý tới, họ sẽ mắc kẹt trong trạng thái cô độc. Họ cũng sẽ không lắng nghe hay quan hoài tới những điều bạn nói. Hãy cố gắng hiểu được những trăn trở của nhân viên, kể cả trong công việc cũng như cuộc sống riêng. Từ đó, bạn sẽ thắt chặt mối quan hệ giữa nhân viên và người quản lí cũng như xây dựng môi trường làm việc hòa hợp, vững mạnh.

Quantri.Vn

Sưu tầm: đơn xin nghỉ việc tiếng việt